*Cơ bản về DJing!

Nếu bạn có hứng thú với việc học DJ , hay chỉ tò mò muốn biết thực tế thì một DJ làm gì với những nút bấm , núm và “fader s“ đằng sau những chiếc bàn DJ , hãy tiếp tục theo dõi bài viết này . Bài viết này giải thích những kĩ thuật cơ bản trong công việc DJing và tác dụng của mỗi một thành phần trong cấu trúc cơ bản của DJ. Đọc tới phần cuối cùng , bạn sẽ có đủ kiến thức để tự khám phá nó.
Chúng ta hãy nhanh chóng làm sáng tỏ xem thực sự thì DJ làm gì và không làm gì !
Một DJ chơi các bản nhạc của họ theo một trình tự , bằng cách đánh dấu(cue) và trộn chúng lại với nhau(mix) . Một quan niệm sai lầm đáng ngạc nhiên thường thấy là họ nghĩ : “ DJ tạo ra âm nhạc trực tiếp để họ chơi trong suốt quá trình – mà trên thực tế là họ dành cả một thời gian dai để thực hiện các bài nhạc trong các phòng thu với một loạt các nhạc cụ thông thường , nhạc cụ điện tử , mẫu âm thanh(samples) và các trang thiết bị kĩ thuật khác . Một vài DJ chơi “live” – như là một band nhạc rock thường làm , nhưng làm điều đấy phụ thuộc hoàn toàn vào một cơ cấu khác , cho nên về cơ bản thì nó khác biệt với DJing.

*Kỹ năng chính của một DJ

Việc trộn một bản nhạc với bản nhạc tiếp theo có thể chia làm 4 bước :

1. Beatmatching ( hay như ở VN gọi là fix tempo ) – nếu cần thiết
2. Chọn bài nhạc tiếp theo – sắp xếp thứ tự
3. Đếm nhịp và ấn nút “play”
4. Cân bằng (equalizing)

Khớp tốc độ (Beatmatching)

Tốc độ của một bản nhạc được thể hiện bằng số BPM ( beat-per-minute = “ số nhịp mỗi phút” ) , và hầu như mỗi bản nhạc đều có một tốc độ không thay đổi xuyên suốt từ đầu tới cuối . Mỗi một thể loại thì thường có một BPM riêng – Ví dụ Deep house khoảng 120bpm , techno nhanh hơn ở 130bpm và drum ‘n’ bass lên tới tận 170bpm.

Việc tăng hoặc giảm tốc độ của các bài nhạc sử dụng các cần điều khiển tốc độ trên bàn , để cho BPM của mỗi một bài nhạc khớp lại với nhau , chúng ta gọi đó là “beatmatching”. Vậy tại sao phải làm như thế ? Khi 2 bài bài nhạc đồng thời được chỉnh khớp nhịp (beat) với nhau , tất cả tiếng kicks, hats, snares và ô nhịp (bars) hòa hợp lại với nhau , bao quanh là giai điệu . Nếu chúng chỉ cần hơi lệch nhau , bản mix sẽ trở thành một đống hỗn độn cực kì khó chịu với sự rối loạn của giai điệu.

Beatmatching là không cần thiết khi không thể nào tìm được điểm chung của các bài nhạc. Câu trả lời cho các bạn là nhanh chóng chuyển bài (sử dụng crossfader) , hoặc là điều chỉnh lại âm lượng . Thông thường, động tác trộn bài nhanh như vậy xảy ra khi phải trộn hai bài có tempo rất khác nhau.

Chọn bài (Track selection)

Việc đầu tiên của một DJ là chơi những bản nhạc thật hay . và Khi chọn bài tiếp theo phải dựa vào bối cảnh – chọn đúng bài cho đúng thời điểm .
Bỏ qua thị hiếu , thì những yếu tố khi chọn bài đều mang tính khoa học . Việc mix những bài hát có tông(key) hợp lí và hài hòa sẽ tạo dấu ấn cho người nghe.
Có rất nhiều điều cần nghĩ tới khi sắp xếp các bài nhạc lại với nhau.

Đếm ô nhịp (Counting bars)

Có một lượng kiến thức cơ bản về cấu trúc âm nhạc rất quan trọng trong DJ , và nó không khó tí nào . Hầu hết nhạc house có nhịp 4/4 , và thông thường mỗi nhịp(Beat) đều có trống(Kick) .

Một ô nhịp(Bar) trong âm nhạc là một khoảng thời gian được dựa trên số lượng nhịp phách cho trước . Nếu bạn nhìn vào một bản nhạc house 4/4 , hãy thử nghĩ về những ô nhịp 8(2Bars), 16(4Bars), 32(8Bars) nốt. Tại sao lại có sự liên quan này ? Bạn hãy chọn lấy một bản nhạc house bất kỳ , đếm số nốt đến 32 – điều gì sẽ xảy ra ? Âm nhạc thường được viết bằng cách đưa vào những lớp âm thanh mới ở đầu mỗi ô nhịp mới , như vậy nghe thường rất hay – việc DJ cũng không khác gì.

Một khi bạn đã chọn và khớp nhịp cho bài nhạc tiếp theo , Cần nghe điểm khởi đầu của ô nhịp (32 nhịp) của bài trước , ấn play tương tự với việc bắt đầu một ô nhịp mới . Bằng việc làm như vậy , cả bản nhạc vào và bản nhạc ra của bạn sẽ tương ứng thêm vào cũng như bớt đi các lớp âm thanh cùng một lúc .

Phần lớn nhạc dance được viết với nhịp 4/4, nên DJ phải nắm rõ về quá trình đếm ô nhịp.

Cân bằng ( Equalising )

Bật một bài nhạc lên , nghe bằng loa trong của laptop hoặc điện thoại cho tới hết bài . Bạn có chắc rằng mình đã nghe cảm nhận hết nó không?

Không đâu , thực ra thì bạn mới chỉ nghe được có một nửa của nó thôi .

Tại sao lại như vậy ? Loa trong của laptop chỉ có thể mô phỏng lại một nửa dải tần số của bản nhạc và bạn cũng sẽ không nghe được các âm thanh có tần số dưới 200hz . Vậy có nghĩa là bạn sẽ không nghe được tiếng “boom” của trống(kicks) , và cũng mất luôn cả tiếng bass trong bassline. Trong nhạc điện tử, bạn không thể thiếu 2 yếu tố cơ bản về nhịp điệu này được .

Có 2 khái niệm khoa học cốt lõi cần phải biết để hiểu được cách EQ :
– Đôi tai bạn phải rất cố gắng để phân biệt các âm thanh có cùng tần số

Đã có ai từng bảo với bạn rằng bạn sẽ không thể nghe được bass bên trong headphones của bạn một cách rõ ràng khi bạn ngồi trên tàu hoặc trên xe bus chưa ? Lý do là vì tiếng ồn của các máy móc đều ở tần số thấp , cùng tần số với các âm thanh bass hay bassline của bạn . Nói tóm lại một cách đơn giản thì tai bạn không thể phân biệt hai âm thanh có cùng dải tần , nghĩa là âm thanh nghe sẽ rất đục – mất đi sự rõ ràng để phân biệt giữa bài nhạc đang chơi và bài tiếp theo.

– Chơi các âm thanh có cùng tần số cùng với nhau sẽ làm tăng âm lượng

Có một số trường hợp khác xảy ra khi bạn chơi hai âm thanh có cùng dải tần chồng lên nhau , nghe nó sẽ to hơn . Điều này có nghĩa là hệ thống âm thanh có thể trở nên quá ồn trước cả khi chúng đạt tới giới hạn của độ to – như vậy thì tín hiệu ra ngoài sẽ nghe vô cùng tệ , biến dạng.

Khi bạn đang ở trên xe bus hay trên máy bay , làm sao để có thể bật to nhạc của mình hơn được nữa – rõ ràng là bạn không thể tắt mấy thứ động cơ kia đi được rồi . Thật may là DJ không gặp phải các vấn đề được nêu ra ở trên vì Mixers có thể tăng giảm được tần số .

Vậy Equalising (EQ) là việc bạn tập cân bằng tần số giữa 2 hay nhiều bài nhạc trong một bản trộn sao cho âm thanh thật trơn tru và không bị méo mó.

Nguồn VNEME – Khám Phá Âm Nhạc Điện Tử.